06:48:20 20-10-2020
Trang chủ Nghiên cứu Khoa học

Nghiên cứu khoa học

Tóm tắt kết quả nghiên cứu đề tài “Tác động của chính sách thủy lợi phí đối với hoạt động quản lý khai thác công trình thủy lợi ở Việt Nam”

Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thị Xuân Lan


Thủy lợi phí là vấn đề hết sức nhạy cảm đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn và có ảnh hưởng đến nhiều đối tượng, bao gồm hàng triệu nông dân, hàng ngàn tổ chức quản lý và sử dụng nước thuộc nhiều thành phần, nhiều địa phương khác nhau.

Song song với những biện pháp về tổ chức quản lý hành chính, thì những chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tài chính  có tác động vô cùng quan trọng đối với hiệu quả khai thác công trình thủy nông. Nổi cộm trong chính sách tài chính đối với quản lý khai thác công trình thủy nông là chính sách miễn thủy lợi phí, được áp dụng từ 1/1/2008. Nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách vĩ mô để thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam, đề tài này đã được Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp và PTNTII thực hiện trong năm 2010, với mục tiêu đưa ra được những thông tin và bằng chứng về tác động của chính sách thủy lợi phí  đối với hoạt động quản lý khai thác công trình thủy nông trong quá trình triển khai.

Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quy trình chính sách và phương pháp tiếp cận lịch sử, với đối tượng khảo sát bao gồm: 2 công ty thủy nông, 10 TCHTDN, 21 hộ nông dân của tỉnh Thái Bình; 1 công ty thủy nông, 3 TCHTDN, 17 hộ nông dân của Tỉnh Quảng Ngãi; 1 công ty thủy nông, 4 TCHTDN, 22 hộ nông dân của tỉnh Bình Định; 1 TCHTDN, 3 hộ nông dân của tỉnh Vĩnh Long (do ở đây không có Công ty thủy nông), đồng thời trực tiếp làm việc với các Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục thủy lợi hoặc phòng Thủy lợi ( trường hợp Bình Định), một số Ủy ban xã.

Dưới đây là một số kết quả chủ yếu của đề tài:

1.Tình hình thực hiện chính sách thủy lợi phí tại một số địa phương :

- Với kỳ vọng giúp nông dân giảm bớt khó khăn, đa số các tỉnh đã có những chủ trương, chính sách giảm tới mức thấp nhất số thủy lợi phí phải đóng của hộ sản xuất. Vì vậy, trong quá trình  triển khai các Nghị định liên quan tới chính sách thủy lợi phí, các tỉnh có ban hành nhiều văn bản mà trong đó, số thủy lợi phí người dân phải đóng thường thấp hơn số định mức theo các Nghị định. Tất nhiên, điều này luôn được các hộ nông dân ủng hộ.

- Không phải tất cả các Nghị định đều được áp dụng kịp thời và triệt để tại mọi địa phương.Ví dụ:Thái Bình không áp dụng Nghị định 143/NĐ-CP, Quảng Ngãi không kịp áp dụng Nghị định 154/NĐ-CP.

- Khi thực hiện chính sách miễn thủy lợi phí theo Nghị định 154, hầu như tất cả địa phương đều bị khó khăn, lúng túng và gặp sự phản đối của người dân.

- Nghị định 115/NĐ-CP đã giúp các địa phương tháo gỡ nhiều vướng mắc (nguồn kinh phí cấp bù, đối tượng được cấp bù...). Tuy nhiên, do chức năng của các đơn vị quản lý khai thác đã thay đổi nên cũng sẽ ảnh hưởng đến các khía cạnh quản lý khác như tổ chức  nhân sự, cơ chế phối hợp, cơ chế quản lý tài chính...

2. Tác động của chính sách thủy lợi phí đối với hoạt động quản lý khai thác công trình thủy nông:

a) Sự thay đổi về hệ thống quản lý và cơ chế phối hợp hoạt động KTCTTN ở các địa phương trong quá trình thực hiện chính sách TLP: Sau khi thưc hiện chính sách miễn thủy lợi phí, có sự thay đổi về tổ chức hệ thống quản lý hoạt động thủy nông cũng như cơ chế phối hợp ở mỗi địa phương, trong đó bao gồm loại hình của các đơn vị quản lý hoạt động thủy nông và chức năng nhiệm vụ của các đơn vị này.

Bảng 1: Tóm tắt thay đổi về tổ chức và nhiệm vụ của các đơn vị quản lý KTCTTN

Nội dung 

Trước khi miễn thủy lợi phí

Sau khi thực hiện miễn TLP

Nhiệm vụ của các Công ty

thủy nông

-Quản lý, bảo vệ, tu sửa hệ thống công trình thủy lợi theo sự phân cấp của tỉnh (gần như toàn bộ hệ thống)

-Ký kết hợp đồng dịch vụ tưới tiêu với các TCHTDN

-Vận hành công trình và điều tiết nước cho sản xuất thông qua  trạm và  cụm thuỷ nông

-Thu TLP của dân thông qua các HTX

-Trực tiếp thu thủy lợi phí

-Quản lý, bảo vệ, tu sửa công trình thủy lợi theo sự phân cấp của tỉnh (Tạo nguồn, quản lý sông trục cấp 1,2)

-Quản lý sông trục cấp 3 nếu thuộc địa bàn nhiều xã

-Ký kết hợp đồng dịch vụ tưới tiêu với các TCHTDN

-Điều tiết nước đến cống đầu kênh của TCHTDN

-Tiến hành các thủ tục nhận cấp bù thủy lợi phí

 

Nhân sự của Công ty thủy nông

-Có bộ phận đốc thu thủy lợi phí

 

-Không còn bộ phận đốc thu thủy lợi phí

-Giảm công nhân vận hành công trình trạm bơm

-Tăng nhân sự  ở các bộ phận hoạt động kinh doanh

Nhiệm vụ của các TCHTDN quản lý công trình phụ thuộc

-Quản lý, bảo vệ, tu sửa công trình thủy lợi theo sự phân cấp của tỉnh

-Quản lý kênh mặt ruộng của HTX

-Giúp Công ty thu thuỷ lợi phí

-Thu phí thủy nông nội đồng (thường gộp chung thủy lợi phí)

-Quản lý sông trục cấp 3, kênh mương nội đồng, trạm bơm, hồ, đập

-Ký kết hợp đồng dịch vụ tưới tiêu với Cty thủy nông

-Tiến hành các thủ tục nhận cấp bù thủy lợi phí

-Thu phí dịch vụ thủy nông nội đồng

Nhiệm vụ của các HTX quản lý công trình độc lập

-Chủ động trong việc quản lý, khai thác, tu dưỡng, bảo dưỡng công trình;

-Tổ chức điều tiết, dẫn nước phục vụ tưới tiêu ;

-Ký hợp đồng và thực hiện hợp đồng tưới với hộ xã viên

-Quyết định mức thu và tiến hành thu TLP dựa trên quy định của tỉnh

-Chủ động trong việc quản lý, khai thác, tu dưỡng, bảo dưỡng công trình;

-Tổ chức điều tiết, dẫn nước phục vụ tưới tiêu ;

-Ký hợp đồng và thực hiện hợp đồng tưới với hộ xã viên

-Tiến hành các thủ tục nhận cấp bù thủy lợi phí

-Thu phí dịch vụ thủy nông nội đồng

 

Nhiệm vụ của Trung tâm quản lý và bảo vệ khai thác công trình Thủy lợi Vĩnh Long

-quản lý và khai thác CTTL theo nhiệm vụ được UBND tỉnh giao (chủ yếu bảo vệ, duy tu, bảo dưỡng, nạo vét công trình và đảm bảo nước lưu thông đến các kênh cấp 1 và 2)

-làm dịch vụ tưới tiêu và thu TLP, phí dịch vụ nội đồng từ hộ dùng nước

-Không còn

Nguồn : Kết quả khảo sát các tỉnh, từ 4/2010 đến 10/2010

b) Ảnh hưởng đối với quản lý nước:

Chất lượng dịch vụ tưới, tiêu trên phạm vi tỉnh, huyện hầu như ít có sự thay đổi so với trước khi thực hiện miễn TLP. Riêng trường hợp tỉnh Vĩnh Long : Do từ giữa năm 2008, Phòng Nông nghiệp &PTNT huyện phải đảm nhận trách nhiệm như các Trung tâm quản lý khai thác công trình thủy lợi trước đây (Công trình thủy lợi nội đồng do UBND cấp xã quản; Công trình kênh, đê bao liên huyện do Sở Nông nghiệp &PTNT phối hợp với UBND các huyện,thị phối hợp với huyện, thị quản lý; Các huyện, thị quản lý trực tiếp Tổ khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, nên chất lượng dịch vụ thủy lợi không còn được như trước. Các công trình bị xuống cấp nghiêm trọng, không có người chịu trách nhiệm cụ thể, tác động xấu đến sản xuất. Cụ thể, vụ Đông Xuân 2010, tỉnh Vĩnh Long có hơn 12.980 ha lúa gieo sạ bị chết phải gieo sạ lại lần 2, năng suất giảm 50% (14 giạ/công thay vì 28 giạ/ công). Nguyên nhân là do không có đơn vị quản lý công trình thủy nông chịu trách nhiệm cụ thể (trạm bơm giao cho các hộ dân gần đó giữ, khi cần bơm nước thoát úng thì không đủ phương tiện dụng cụ).

 Các TCHTDN đơn vị này vẫn chưa hài lòng với chất lượng dịch vụ hiện nay với các lý do chủ yếu như sau:

- Công trình đã xuống cấp trầm trọng. Nguyên nhân chủ yếu là do phần lớn các công trình đã được xây dựng cách đây nhiều năm.

- Thiết bị đã lạc hậu. Trạm bơm của các HTX nông nghiệp đa phần là loại máy bơm trục ngang, máy móc rão nát, không chủ động được tưới tiêu, thời gian tưới kéo dài, chi phí điện cao.

- Mức đóng góp cho việc duy tu hệ thống thủy nông nội đồng của dân quá thấp, không đủ cho xây dựng và duy tu lại các kênh mương. Điển hình là trường hợp của tỉnh Bình Định: mức thu phí nội đồng chỉ từ 300 ngàn đồng đến 600 ngàn đồng/ha/năm (áp dụng theo Quyết định 399/QĐ-UBND ngày 8.7.2008 của UBND tỉnh).

- Thuỷ nông viên không làm tốt do thù lao thấp: Có 39% ý kiến cho rằng thù lao của thủy nông viên thấp nên họ không thiếu động lực làm việc. Số liệu về thù lao năm 2009 của một số HTX cho thấy: ở các HTX có điều kiện tương đối thuận lợi (địa hình, ý thức tự giác của người dân tốt) thì thù lao của thủy nông viên cũng không quá 600 ngàn đồng/tháng ; Còn những nơi có điều kiện khó khăn, thì thù lao của thủy nông viên rất thấp, thậm chí có nơi không tới 100.000 đồng/ tháng.

c) Ảnh hưởng đối với quản lý công trình 

Trừ Thái Bình, các tỉnh khảo sát còn lại đều cho biết công tác bảo vệ, quản lý kênh mương đã bị buông lỏng, gây thiệt hại không ít. Ví dụ HTX Phước Quang, tỉnh Bình Định, do cán bộ thủy lợi và tổ thủy nông cơ sở thiếu nhiệt tình, buông lỏng trong việc bảo quản puy cống, công trình pê-tông, kênh mương nội đồng, nên xã viên đào phá bờ vùng, bờ mương, phá puy cống, trồng rau và ngâm tre trong lòng mương, phóng uế rác thải bừa bãi, chủ chăn nuôi thả vịt tràn lan, gây ô nhiễm môi trường, sạt lở, bồi lấp kênh mương, tắc dòng chảy... gây tốn kém về kinh phí khắc phục, nạo vét.

d) Thay đổi về quản lý tài chính của các doanh nghiệp và TCHTDN:

Với mức cấp bù thủy lợi phí theo Nghị định 115, doanh thu từ hoạt động thủy nông của các công ty năm 2009 tăng rất nhiều so với số thu thủy lợi phí khi chưa có chính sách miễn thủy lợi phí (2007). Ngoài ra, có sự thay đổi về cơ chế cấp bù: Công ty khai thác công trình thuỷ lợi nhà nước được hỗ trợ kinh phí để xử lý xóa  nợ đọng thuỷ lợi phí và khoản lỗ do nguyên nhân khách quan. Ngân sách trung ương hỗ trợ cho các công ty quản lý khai thác công trình thuỷ lợi trung ương. Ngân sách địa phương hỗ trợ cho các công ty quản lý khai thác công trình thuỷ lợi địa phương.

Thực tế cho thấy, một số địa phương khó khăn về ngân sách (Bình Định, Quảng Ngãi) nên việc hỗ trợ cho các công ty phải kéo dài, ảnh hưởng đến hoạt động của các công ty. Ngoài ra, kinh phí do ngân sách cấp thường chậm trễ, đến cuối năm (tháng 12) các Công ty và HTX mới nhận được nên khó giải ngân.

Riêng Vĩnh Long, từ khi áp dụng chính sách miễn thủy lợi phí cũng là lúc Trung tâm KTCTTL bị giải thể, số thủy lợi phí được cấp bù hoàn toàn được chuyển về cho Phòng Nông nghiệp huyện, phòng Kinh tế TP.Vĩnh Long và UBND cấp xã sử dụng.

Bảng 2: TÌNH HÌNH THU, CHI CỦA MỘT SỐ CÔNG TY THỦY NÔNG

                                                                                                                        ĐVT: tr.đồng

 

Nội dung

2006

2007

2008

2009

2010(ước)

A

Công ty KTCTTL Bình Định

 

 

 

 

 

I

Phần thu

11.983,0

11.294,0

17.875,0

38.690,0

41.850,0

 

1. Thu từ đối tượng không được miễn thủy lợi phí

10.842,0

9.276,0

1.642,0

1.600,0

1.650,0

 

2. Thu từ cấp bù TLP

 

 

15.290,0

32.970,0

35.000,0

 

3. Các khoản hỗ trợ từ ngân sách

1.125,0

1.984,0

844,0

4.000,0

5.000,0

 

4. Thu từ dịch vụ khác

16,0

34,0

99,0

120,0

200,0

II

Phần chi

11.632,0

11.240,0

11.938,0

38.690,0

41.850,0

 

1. Chi cho nguyên vật liệu
vận hành và bảo dưỡng

90,0

236,0

37,0

520,0

900,0

 

2. Chi đôn đốc thu TLP

848,0

364,0

0,0

0,0

0,0

 

3. Chi sửa chữa TX TSCĐ

2.538,0

1.578,0

1.882,0

18.250,0

18.550,0

 

4.Chi điện năng, NL

91,0

89,0

76,0

120,0

200,0

 

5. Chi lương, các khoản theo lương & ăn ca

5.729,0

6.275,0

8.023,0

11.300,0

12.400,0

 

6.Chi sửa chữa lớn TSCĐ

 

 

 

4.000,0

5.000,0

 

7. Khấu hao TSCĐ

350,0

659,0

339,0

500,0

500,0

 

8. Chi quản lý doanh nghiệp

1.584,0

1.573,0

1.532,0

3.000,0

3.200,0

 

9. Chi khác

402,0

466,0

49,0

1.000,0

1.100,0

 

III. Thu - Chi

351,0

54,0

5.937,0

0,0

0,0

 

 

 

 

 

 

 

B

Công ty KTCTTL Quảng Ngãi

 

 

 

 

 

I

Phần thu

10.068,9

10.901,6

24.023,0

28.669,6

34.225,1

 

Thủy lợi phí, tiền nước

9.449,5

9.484,6

500,0

2.000,0

2.400,0

 

Hỗ trợ cấp bù thủy lợi phí

 

 

9.566,0

22.097,5

22.539,4

 

Hỗ trợ thu không đủ chi

561,0

1.353,0

13.957,0

4.572,2

9.285,7

 

Thu khác

58,5

64,0

 

 

 

II

Phần chi

11.338,4

15.625,8

24.023,0

28.669,6

34.225,1

 

Lương và phụ cấp

5.633,4

7.082,2

9.129,0

10.954,8

13.145,8

 

BHXH, BHYT, KPCĐ

741,0

906,8

1.107,0

1.273,1

1.464,0

 

Khấu hao TSCĐ

354,3

469,6

523,0

601,5

691,7

 

Sửa chữa lớn,trả lãi vay

450,0

1.026,8

350,0

395,0

423,5

 

Sửa chữa thường xuyên

1.638,3

2.500,4

6.733,0

8.079,6

9.695,5

 

Tiền điện Trạm bơm

432,1

517,8

449,0

538,8

646,6

 

Chi phí Quản lý

1.115,5

1.062,0

1.672,0

2.006,9

2.408,3

 

Đào tạo, Đ/ mức KTKT

109,0

322,5

420,0

462,0

508,2

 

Bảo vệ công trình, BHLĐ

159,7

216,1

365,0

438,0

525,6

 

Chi phí khác

705,1

1.521,8

3.275,0

3.930,0

4.716,0

 

Thừa ( + ) ; thiếu ( - )

-1.269,5

-4.724,2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

C

Công ty KTCTTL Bắc Thái Bình

 

 

 

 

 

I

PHẦN THU

23.190,4

29.051,5

31.337,3

72.230,3

 

 

Thu thủy lợi phí

21.906,2

27.406,7

26.921,7

56.017,0

 

 

Ngân sách cấp

304,2

578,4

2.911,7

14.421,7

 

 

Thu SXKD

447,3

379,6

1.074,0

1.097,3

 

 

Thu khác

532,7

686,9

430,0

694,3

 

II

PHẦN CHI

22.064,4

27.669,9

28.406,0

57.663,2

 

 

Phục vụ sản xuất

21.229,2

26.947,3

27.203,7

56.521,6

 

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

Tu bổ sửa chữa công trình

2.205,2

4.815,1

5.992,3

30.177,8

 

 

Chi điện bơm nước

3.710,3

3.741,9

1.300,4

1.385,7

 

 

SXKD ngoài công ích

424,9

331,1

1.054,7

950,3

 

 

Chi phí khác

410,3

391,5

147,6

191,4

 

III

THU -CHI

1.126,0

1.381,6

2.931,2

14.567,0

 

                                                                        Nguồn: Báo cáo của các Công ty thủy nông

                       

Khi thực hiện chính sách miễn thủy lợi phí, ngoài khoản phí thủy nông nội đồng, các HTX được chuyển giao, phân cấp quản lý công trình thì được nhận cấp bù thủy lợi phí với mức cấp bù theo Nghị định 115. Một số HTX không đồng tình với quan điểm phần phí thủy nông nội đồng chi không hết cũng không được chia mà cho rằng: HTX đã làm dịch vụ thì doanh thu từ hoạt động dịch vụ thủy lợi cũng phải được tính vào tổng doanh thu như các dịch vụ khác. Điều này còn dẫn đến một số HTX không cố gắng đẩy mạnh hoạt động kiên cố hóa kênh mương, lý do là việc kiên cố hóa kênh mương chỉ có dân lợi chứ HTX không được lợi gì, nhưng lại lấy tiền của HTX.

Hiện nay, đối với phí thủy nông nội đồng, có nơi thu được 80-90% tổng số phải thu, có nơi chỉ thu không tới 50% nên không đủ trang trải chi phí. Vì vậy, một số HTX yêu cầu phí thủy nông nội đồng cần để cho Đại hội xã viên quyết định, chứ không nên khống chế như hiện nay.

3. Ưu điểm và hạn chế của chính sách thủy lợi phí hiện hành:

a)Ưu điểm:

            - Tính hiệu lực của chính sách được đảm bảo khá tốt.

            - Được đa số người dân ủng hộ, phấn khởi và có thêm động lực sản xuất

            - Tạo tiền đề cho những thay đổi về mô hình quản lý khai thác công trình thủy nông cũng như thay đổi về bộ máy nhân sự của các đơn vị tham gia quản lý KTCTTN

            - Tạo động lực cho việc phát triển các hoạt động kinh doanh, đào tạo nguồn nhân lực của các doanh nghiệp và HTX để đáp ứng nhiệm vụ mới.

b) Hạn chế:

- Cơ sở xác định mức thu thủy lợi phí chưa đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng tài nguyên nước và tính công bằng xã hội. Phương pháp định giá theo diện tích tưới sẽ dẫn đến hậu quả là người dân có thể sử dụng quá mức cần thiết

- Một số quy định chưa được áp dụng thuận lợi và thống nhất: Quy định cống đầu kênh;  Phí thủy nông nội đồng hiện mỗi tỉnh thực hiện khác nhau, có nơi quy định mức trần, có nơi không; Khó thu được nợ thủy lợi phí khê đọng từ những năm trước

4. Những đề xuất hoàn thiện chính sách thủy lợi phí

a) Nghiên cứu điều chỉnh phương pháp xây dựng mức thu thủy lợi phí: Ngoài phương pháp tính thủy lợi phí theo diện tích tưới, nên nghiên cứu xây dựng bổ sung phương pháp tính theo block cho các khu vực có điều kiện phù hợp, như vậy sẽ khuyến khích người dân sử dụng nước tiết kiệm hơn. Tất nhiên, phương pháp này chỉ được áp dụng trong điều kiện hiệu quả mang lại sẽ cao hơn so với phương pháp định giá dựa trên diện tích tưới.

b) Cơ chế xác định phí thủy nông nội đồng: Nhiều HTX không thể tăng mức phí dịch vụ thủy nông nội đồng do quy định khống chế và người dân không đồng ý. Để đảm bảo cho dịch vụ thủy nông hoạt động tốt, nếu ngân sách không cấp bù cho HTX/THT thì nên xây dựng định mức TLP nội đồng sát điều kiện thực tế và ban hành quy định để người dân biết và thực hiện. Có thể xây dựng mức trần (như một số tỉnh đã làm) và để cho HTX tự thỏa thuận với xã viên dưới sự hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước (Chi cục thủy lợi, phòng nông nghiệp huyện). Nhưng cũng nên có cơ chế cấp bù (như đối với công trình trạm bơm) trong một số trường hợp đặc biệt, nếu với mức thu “trần” mà HTX vẫn không đảm bảo được chi phí.

c) Miễn thủy lợi phí phải tiến hành đồng thời với việc phân cấp quản lý công trình: Cùng với sự thay đổi trong cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp thủy nông , mô hình phân cấp quản lý công trình thủy lợi cần phải được triển khai. Đây là hệ thống quản lý gồm nhiều tổ chức khác nhau, được phân cấp nhiệm vụ và quyền lợi rõ ràng, cùng phối hợp hoạt động với nhau trong một khung thể chế pháp luật thống nhất.

d) Ban hành quy định quản lý tiền cấp bù TLP cho các TCHTDN: Hiện nay, ở nhiều địa phương, các cơ quan quản lý nhà nước rất băn khoăn về vấn đề quản lý tiền cấp bù cho các TCHTDN như thế nào.

đ) Cần nghiên cứu thêm để hướng dẫn cụ thể cho một số trường hợp đặc biệt khi xác định cống đầu kênh: Hiện nay, mặc dù  theo quy định của Nghị định số 115/2008/NĐ-CP thì cống đầu kênh là công trình dẫn nước hoặc tiêu nước cho một diện tích hưởng lợi nhất định thuộc trách nhiệm quản lý của người hưởng lợi, nhưng thực tế cho thấy có nơi thì cống đầu kênh được tính từ cửa xả, có nơi từ cửa dẫn, và đôi khi cống đầu kênh xác định đối với HTX không thống nhất với công trình. Vì vậy, trong một số trường hợp đặc biệt, Chi cục thủy lợi cần tư vấn cho Tỉnh để thống nhất với HTX về cách xác định vị trí cống đầu kênh một cách cụ thể (như ở Bình Định).

e) Cần đảm bảo cấp bù tiền miễn thủy lợi phí  kịp thời và có tính đến yếu tố trượt giá: Cần có quy định về việc điều chỉnh kinh phí cấp bù theo hệ số trượt giá nếu khoản cấp bù không được cấp kịp thời theo kế hoạch.

g) Nghiên cứu thực hiện đấu thầu quản lý công trình thủy nông, thực hiện xã hội hóa công tác quản lý hoạt động thủy nông: Khi áp dụng hình thức đấu thầu hoặc đặt hàng thì các công ty thủy nông mới được thực sự hoạt động theo đúng bản chất của một doanh nghiệp và mới được chủ động, tự chủ về tài chính. Đối tượng dự thầu không chỉ có HTX, THT mà có thể bao gồm cả tư nhân.

Tóm lại, chính sách miễn TLP hiện nay, về cơ bản, được sự ủng hộ của hầu hết các tổ chức tham gia quản lý KTCTTL cũng như của người dùng nước. Tuy vậy, những vấn đề như : năng lực phục vụ của các công trình ngày càng xuống cấp, ý thức trách nhiệm của người dùng nước, tinh thần phục vụ của “cán bộ” thủy nông, hiệu lực của cơ chế cấp bù thủy lợi phí sẽ kéo dài trong bao lâu…vẫn còn là những băn khoăn của nhiều người. Nhìn chung, các vấn đề của chính sách miễn TLP gắn liền với công tác tổ chức dịch vụ thủy nông và các vấn đề này không có tính chất phổ biến.

Miễn thuỷ lợi phí là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta đối với người nông dân, nhằm giảm gánh nặng, cải thiện đời sống của người dân. Tuy nhiên, đây là một vấn đề lớn, khó khăn, phức tạp và chứa đựng nhiều vấn đề bất cập giữa lý luận và thực tiễn. Do giới hạn về thời gian và kinh phí, đề tài chưa thể đi sâu vào những khía cạnh khác của chính sách thủy lợi phí như: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của chính sách này, mức độ góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và tạo sự tăng trưởng đối với sản xuất nông nghiệp, nông thôn, mức độ đạt được về sự công bằng, các mục tiêu xã hội khác (như điều tiết thu nhập giữa các nhóm dân cư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. v..v...). Chúng tôi hy vọng sẽ có thêm nhiều kết quả phân tích, đánh giá đối với chính sách thủy lợi phí, đặc biệt là việc thực thi chính sách này ở nhiều địa phương khác nhau để phát hiện thêm những vấn đề cần bổ sung, điều chỉnh, góp phần nâng cao tính hiệu quả của chính sách, tránh được những hệ quả không tốt trong quản lý khai thác công trình thủy nông. /.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1)                 Nguyễn Thị Song An, Miễn phí thủy lợi cho nông dân:Một chủ trương đúng nhưng chưa đi vào thực tế (2008)

2)                 Hoàng Thái Đại, Chính sách miễn, giảm thủy lợi phí và quan điểm các tác nhân về chính sách miễn, giảm thủy lợi phí tại một số địa phương, Đặc san KHCN Thủy lợi

3)                 Nguyễn Xuân Tiệp; Bài toán về thủy lợi phí và lời giải (2009)

4)                 Nguyễn Xuân Tiệp, Miễn giảm thủy lợi phí cho nông dân: Tại sao không,www.vncold.vn

5)                 Nguyễn Xuân Tiệp, Quản lý công trình thủy lợi: đã đổi nhưng chưa mới,www.vncold.vn

6)                 Vấn đề Thuỷ lợi phí : Quá trình thực hiên ở nước ta, kinh nghiệm một số nước khác và kiến nghị giải pháp (Báo cáo chuyên đề của Cục Thuỷ lợi, 2006)

7)                 Cục quản lý nước và công trình thủy lợi; Những cân nhắc khi thực hiện chuyển giao dịch vụ trong lĩnh vực thủy nông (sách dịch, nguyên bản: Considerations in Formulating the transfer of services in the water sector của  Haral D.Frederiken & Rodney J.Vissia (2003)

8)                 François Molle, Jeremy Berkoff; Irrigation Water Pricing, (2007)

 

Tóm tắt kết quả nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tác động của chính sách phân phối lợi nhuận đến giá trị doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước”

Chủ nhiệm đề tài: TS. Phạm Quốc Việt

Hội đồng nghiệm thu đã họp nghiệm thu đề tài đặc thù 2010: “ Nghiên cứu tác động của chính sách phân phối lợi nhuận...

Nghiên cứu ứng dụng chuỗi giá trị sản xuất và tiêu thụ nông sản

Nghiên cứu ứng dụng chuỗi giá trị sản xuất và tiêu thụ nông sản Suy nghĩ về vấn đề bức bách nhất mà ngành nông nghiệp chưa làm được là ổn định đầu ra của sản phẩm, GS Võ Tòng Xuân có bài viết đề cập các tình huống ...

EQ và khả năng làm chủ cảm xúc

EQ và khả năng làm chủ cảm xúc

Chỉ 25% số người thành công là có CHỈ SỐ IQ CAO HƠN TRUNG BÌNH.

Và  "Chỉ số EQ mới là YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH SỰ THÀNH CÔNG trong cuộc sống và công việc của ...

Bong bóng bất động sản có vỡ không?

Bong bóng bất động sản có vỡ không?

Gần 20 năm qua, đường biểu diễn thị giá BĐS đã liên tục diễn biến theo cách đỉnh sau cao hơn đỉnh trước qua mỗi chu kỳ sốt nóng. Bong bóng BĐS vì thế ...

Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ I)

Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ I)

Luật sư Nguyễn Tiến Lập

Trong suốt thời gian qua, bất chấp mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu ...

Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ II)

Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ II)

Luật sư Nguyễn Tiến Lập

Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam, nhưng khái quát về thực trạng pháp ...

Phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay - Phương pháp tiếp cận và sản phẩm nghiên cứu

TRỊNH DUY LUÂN

Công cuộc đổi mới gần 2 thập kỷ qua đã làm thay đổi căn bản diện mạo đời sống kinh tế – xã hội ở nước ta. Nền kinh tế thị trường định hư...

Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II họp Hội đồng nghiệm thu đề tài nghiên cứu

Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT II họp Hội đồng nghiệm thu đề tài nghiên cứu

“ Phân tích, đánh giá việc tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng ở đồng bằng sông Cửu Long theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về kh...

Trang 3 của 5

Tin mới nhất